Một tham tán
thương mại dự hội nghị Tham tán thương mại Việt Nam tổ chức năm 2009
cho rằng, chỉ cần giải quyết được vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc là có
thể hạn chế nhập siêu ở mức chấp nhận được.
Gần 90% nhập siêu là từ Trung Quốc
Suốt
từ đầu năm 2009 đến nay, bộ Công thương vẫn loay hoay với các giải
pháp, chủ yếu nhằm vào hoạt động nhập khẩu hàng tiêu dùng như: cấp phép
nhập khẩu tự động, nhờ ngân hàng Nhà nước can thiệp để hạn chế cho vay
ngoại tệ nhập khẩu ôtô, điện thoại và một số mặt hàng tiêu dùng khác...
Nhưng tỷ lệ nhập siêu vẫn cao (21,6% năm 2009) cho thấy, hiệu quả của
các giải pháp này là hạn chế.
Đặc
biệt, một trong những điều đập vào mắt khi nhìn vào thị trường và cơ
cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam chính là: Việt Nam hiện nhập siêu quá
lớn từ Trung Quốc. Một tham tán thương mại dự hội nghị Tham tán thương
mại Việt Nam tổ chức năm 2009 cho rằng, chỉ cần giải quyết được vấn đề
nhập siêu từ Trung Quốc là có thể cơ bản hạn chế nhập siêu ở mức chấp
nhận được.
Từ
năm 2001, nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng nhanh nhưng đồng thời cũng
bộc lộ sự mất cân bằng ngày càng tăng trong quan hệ thương mại Việt –
Trung. Nếu như năm 2006, kim ngạch thương mại hai nước mới chỉ trên
10,4 tỉ USD thì hết năm 2009, theo nhiều nguồn thống kê, kim ngạch xuất
nhập khẩu Việt – Trung đã đạt trên 21,3 tỉ USD (chiếm khoảng 17% tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam nhưng chiếm chưa tới 1% tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc).
Cùng
với sự gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều, con số nhập siêu từ
Trung Quốc cũng ngày càng tăng. Theo các con số thống kê từ cơ quan
chức năng, nhập siêu từ Trung Quốc năm 2007 là trên 9,1 tỉ USD, tăng
109,7% so với năm 2006. Năm 2008, con số này đã lên đến 12,6 tỉ USD,
tăng 21,7%. Năm 2009, nhập siêu từ Trung Quốc khoảng 11,5 tỉ USD, giảm
8,4% so với năm 2008 nhưng là do nhập khẩu nói chung đều giảm trong bối
cảnh suy giảm kinh tế. Dù sao đó vẫn là con số rất lớn so với tổng kim
ngạch nhập siêu cả nước năm 2009 là 12 tỉ USD. Nhập siêu từ Trung Quốc
trong tổng nhập siêu như vậy đã lên tới gần 90%. Trong khi năm 2008, tỷ
lệ này là 61,6% và năm 2007, tỷ lệ này là 65,3%. Đây là một con số rất
đáng báo động trong quan hệ thương mại Việt – Trung. Bởi, năm 2001 là
năm Việt Nam lần đầu tiên nhập siêu từ Trung Quốc với tỷ lệ khi đó mới
chỉ là 17,7% trong tổng nhập siêu, nhưng nhập siêu từ Trung Quốc đã kéo
dài suốt chín năm qua với tỷ lệ ngày càng tăng.
Nguyên
nhân nào dẫn đến nhập siêu bất bình thường như vậy từ Trung Quốc? Trước
hết về xuất khẩu, có thể nói, trong khi các doanh nghiệp Trung Quốc
tung hoành xuất khẩu sang Việt Nam thì xuất khẩu của Việt Nam qua Trung
Quốc là rất khó khăn. Nếu không kể những mặt hàng nguyên liệu như cao
su, than, dầu thô… thì hàng xuất của Việt Nam sang Trung Quốc thường là
các mặt hàng mà Trung Quốc cũng dư thừa năng lực sản xuất nên khó cạnh
tranh nổi. Còn những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như than, dầu thô…
thì lại có xu hướng giảm do hạn chế về khả năng khai thác và chủ trương
dần hạn chế xuất khẩu tài nguyên. Xuất khẩu dầu thô sang Trung Quốc năm
2009 đã giảm trên 23%.
Về
nhập khẩu, một số mặt hàng nhập từ Trung Quốc cho cả sản xuất và tiêu
dùng là những mặt hàng Việt Nam chưa sản xuất được hoặc có nhưng chưa
đáp ứng đủ nhu cầu như sắt thép, nguyên phụ liệu dệt may, phân bón,
linh kiện, phụ tùng ôtô, xe máy… Hàng Trung Quốc lại rẻ và gần Việt Nam
nên nhiều doanh nghiệp lựa chọn nhập khẩu từ đây.
Cần một loạt giải pháp đồng bộ
Trong
việc kiềm chế nhập siêu nói chung và nhập siêu từ Trung Quốc nói riêng,
một vấn đề lớn dường như chưa được bộ Công thương nhìn nhận đầy đủ
chính là việc nhập khẩu máy móc, thiết bị. Theo một số chuyên gia của
hiệp hội Cơ khí, các mặt hàng cơ khí, máy móc…chiếm tỷ lệ rất lớn trong
tổng lượng hàng hoá nhập khẩu. Như năm 2008, giá trị nhập khẩu các mặt
hàng cơ khí (không kể nguyên liệu sắt, thép) đã lên tới gần 19 tỉ USD.
Mười tháng đầu năm 2009 đã nhập 13,5 tỉ USD các mặt hàng này…, trong số
đó phần lớn là máy móc, thiết bị, hàng cơ khí từ Trung Quốc. Một chuyên
gia của cục Xúc tiến thương mại, bộ Công thương phân tích: “Nhập siêu
triền miên nhưng lại phân bổ không đều cho các thị trường. Nhập siêu
chỉ dồn vào mấy thị trường ở châu Á, đặc biệt là nước láng giềng Trung
Quốc, chiếm chủ yếu trong tổng số nhập siêu của cả nước. Hậu quả là
không nhập khẩu được công nghệ nguồn, kỹ nghệ mới mà chỉ là công nghệ
sao chép, lạc hậu. Dù được lý giải là gần, hợp trình độ của ta, song ai
quên được bài học từ những nhà máy xi măng lò đứng”.
Một
trong các nguyên nhân là trong mấy năm qua, các nhà thầu Trung Quốc
trúng thầu ở hàng loạt dự án lớn như dự án khai thác, luyện đồng Sin
Quyền (Lào Cai), nhà máy nhiệt điện Hải Phòng… và có thể khẳng định,
hiện tại Trung Quốc là nước có số lượng nhà thầu và số dự án trúng thầu
nhiều nhất tại Việt Nam. Theo ông Phạm Hùng, tổng giám đốc tổng công ty
Lắp máy Việt Nam thì các nhà nhà thầu Trung Quốc mang theo hầu như tất
cả những gì họ có (từ Trung Quốc) để phục vụ công trình, từ máy móc,
công nghệ đến nguyên, vật liệu (chưa kể công nhân)… vì vậy, trong giá
trị nhập siêu lớn từ Trung Quốc có phần đáng kể từ việc nhập khẩu cho
các công trình, dự án mà phía Trung Quốc trúng thầu. Mặt khác việc
thiếu các chính sách đầu tư thích đáng để sản xuất hàng cơ khí, máy
móc, thiết bị thay thế hàng nhập khẩu là một trong những nguyên nhân
chủ yếu khiến nhập siêu cao (chứ không phải do hàng tiêu dùng, chỉ
chiếm tỷ lệ 9%).
Cho
nên, có thể nói, giải bài toán nhập siêu hiện nay không thể không xem
xét đến các giải pháp chống nhập siêu từ Trung Quốc. Tất nhiên, với
những lợi thế hiện nay của nền kinh tế khổng lồ này, việc đưa kim ngạch
xuất – nhập khẩu giữa hai bên về trạng thái cân bằng là vô cùng khó
khăn nhưng không phải không có giải pháp. Cần, không phải chỉ một mà
một loạt giải pháp đồng bộ: đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tăng cường
xuất khẩu sang Trung Quốc; chuyển hướng thị trường nhập khẩu (đặc biệt
là máy móc, công nghệ) sang các thị trường khác, nhất là các thị trường
có công nghệ cao như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ; hạn chế nhập khẩu những mặt
hàng Việt Nam đã sản xuất được và có chính sách tích cực đẩy mạnh sản
xuất các mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu từ Trung Quốc; tăng cường
kiểm soát chất lượng hàng hoá, an toàn thực phẩm đối với hàng nhập từ
Trung Quốc, chống nhập lậu, buôn lậu tại các vùng biên, cửa khẩu giáp
với Trung Quốc…