Giám sát hoạt động doanh nghiệp (DN) nhà nước là vấn đề được quan tâm nhất tại Hội nghị “Kinh nghiệm quốc tế về quản trị DN nhà nước, giám sát tập đoàn kinh tế nhà nước và so sánh khung pháp luật về quản trị DN nhà nước của Việt Nam với cam kết WTO và thông lệ kinh tế thị trường” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương tổ chức ngày hôm qua (31/8) tại Hà Nội.
PV đã phỏng vấn ông Trần Tiến Cường, Trưởng Ban Cải cách và Phát triển DN (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) về nội dung này.
Thưa ông, cho tới thời điểm này, các quy định về giám sát tập đoàn kinh tế nhà nước, DN nhà nước quy mô lớn đã được hoàn thiện?
Cơ chế giám sát tập đoàn kinh tế nhà nước đã có quy định tại Nghị định 101/2009/NĐ-CP về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước của Chính phủ ban hành ngày 5/11/2009.
Theo đó, chủ thể giám sát, đánh giá được quy định là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ quản lý ngành, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ… Các công cụ, phương thức giám sát, đánh giá được quy định là chế độ báo cáo, chế độ kiểm toán, hoạt động kiểm tra của chủ thể giám sát, hệ thống thông tin dữ liệu.
Nội dung giám sát được quy định tập trung vào công tác tổ chức và cán bộ, kết quả hoạt động quản lý và điều hành, hoạt động sản xuất - kinh doanh của DN, hoạt động tài chính của DN...
Các quy định này có đủ để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty lớn như đã xảy ra thời gian qua, thưa ông?
Cơ chế giám sát chính là để phát hiện sớm, cảnh báo và phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên, thực tế hiệu quả của các quy định này còn nhiều điều phải lưu ý, do cơ chế thực thi chưa cụ thể.
Thứ nhất, chủ thể giám sát thực hiện theo chức năng, có nghĩa là thực hiện phân tán các nội dung liên quan đến hoạt động của DN đáng lẽ cần phải được nhìn nhận một cách tập trung. Khi khả năng phối hợp của các cơ quan này không tốt, chất lượng của giám sát sẽ khó được đảm bảo. Đó là chưa kể tới những rủi ro chồng chéo, đan xem về nhiệm vụ của các cơ quan có thể sẽ gây khó khăn cho hoạt động của DN, cũng như chính các cơ quan này.
Đặc biệt, tiêu chí, chỉ tiêu để đánh giá đang là thực sự là vấn đề lớn. Hiện tại, các tiêu chí để giám sát chủ yếu tập trung vào nội dung tài chính. Các nội dung dung cần giám sát, đánh giá khác hầu như chưa có tiêu chí cụ thể.
Theo quy định của Luật DN, công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước sẽ có 1 - 3 kiểm soát viên độc lập. Ông đánh giá thế nào về hoạt động của vị trí này?
Cơ chế kiểm soát viên là một cơ chế mới, khác với ban kiểm soát trước đây và chưa có tiền lệ trong mô hình tổ chức của DN nhà nước. Vì vậy, để vận hành được thì có nhiều việc phải làm. Trước mắt, quy chế về kiểm soát viên, cơ chế hoạt động, tiêu chuẩn của kiểm soát viên… phải được hoàn thiện sớm để các đối tượng liên quan có cơ sở thực hiện.
Kiểm soát viên theo quy định là do chủ sở hữu bổ nhiệm, phải đảm bảo tính độc lập với DN, nên họ cần có quyền tiếp cận thông tin ở đâu, ở mức nào, báo cáo đến đâu, tiêu chí hoạt động… để làm việc được thuận lợi, thực hiện được trách nhiệm mà chủ sở hữu giao. Tuy nhiên, cơ chế hoạt động cũng phải làm rõ, để tránh tình trạng lạm quyền của vị trí này.
Ngay cả câu hỏi kiểm soát viên sẽ do ai trả lương, DN hay chủ sở hữu cũng là vấn đề phải làm rõ. Nếu ăn lương của DN, tính khách quan của hoạt động của kiểm soát viên độc lập có được đảm bảo không. Nếu các kiểm toán viên hưởng lương như công chức nhà nước, do các bộ quản lý ngành quản lý, tính trách nhiệm, có rủi ro trong công việc này sẽ thế nào. Theo tôi, phải đảm bảo để gắn quyền lợi và trách nhiệm của vị trí này một cách hiệu quả nhất.
Song, cũng phải nói rằng, hiệu quả hoạt động của việc giám sát tập đoàn kinh tế nhà nước còn phụ thuộc rất lớn vào nhiều nội dung, như quyền chủ ở hữu thực hiện thế nào, bộ máy của chủ sở hữu có chuyên trách, chuyên nghiệp…