M&A giữa MSN
và VCF
được thông tin khá nhiều và đầy đủ. Những nét chính của thương vụ này giúp hiểu rõ hơn cách thức tiến hành một giao dịch thâu tóm trong môi trường kinh doanh Việt Nam, chiến lược mở rộng qua M&A của Masan Group, và cả những gợi ý về chuyển động tương lai của MSN
.
Vì sao MSN
muốn thâu tóm VCF
?
Các mặt hàng tiêu dùng: tương ớt, nước chấm, nước tương, mì ăn liền là những sản phẩm chủ lực của Masan. Năm 2010, MSN
nắm giữ 70% thị phần nước tương và 45% thị phần mì gói. Đối thủ cạnh tranh gay gắt với Masan là Thực phẩm Á Châu và Acecook. Tính từ 2006, MSN
đã tăng trưởng rất mau chóng ở những ngành hàng này. Bởi vậy, khi không gian tăng trưởng không còn rộng rãi nữa, MSN
có nhu cầu tiến sang các ngành hàng tiêu dùng khác – cà phê là mặt hàng giàu tiềm năng.

MSN
luôn có lượng tiền mặt dồi dào, khoảng 16% tổng tài sản trong những năm 2009-10 và tăng mạnh lên 28,34% vào cuối năm 2011.
|
Dư thừa tiền mặt (đơn vị: tỷ đồng)
|
|
Năm
|
2009
|
2010
|
2011
|
|
Tiền mặt và các khoản tương đương tiền |
1,123.616
|
3,395.575
|
9,573.953
|
|
Tổng tài sản |
7,017.094
|
21,129.538
|
33,672.819
|
|
Tỷ trọng trong tổng tài sản |
16.01%
|
16.07%
|
28.34%
|
|
Nguồn: BCTC hợp nhất Masan Group 2009, 2010 và 2011
|
Giai đoạn 2008-2012, MSN
huy động lượng vốn lớn từ các định chế tài chính quốc tế, ước đạt 1 tỷ USD.

Lượng tiền vốn lớn gây áp lực phải tăng trưởng mạnh mẽ hơn. Tự thân MSN
có nhu cầu tìm mua tài sản để tăng quy mô trong khoảng thời gian ngắn.
MSN
lựa chọn VCF
với những lý do:
-
VCF
có cơ cấu cổ đông khá tập trung: Tổng công ty Cà phê (Vinacafe) nắm giữ 50,26% cổ phần; 8,63% do CTCK Beta nắm giữ; 7,7% thuộc về NĐT Trần Quang Lộc, đại diện sở hữu cho một nhóm cổ đông khác; hơn 7% thuộc về CB-CNV VCF
[v].
MSN
đạt được gì khi thâu tóm VCF
Thâu tóm VCF
phù hợp với mục tiêu đã đề ra của MSN
là trở thành “công ty tiêu dùng hàng đầu Việt Nam trên doanh số, lợi nhuận và thương hiệu mạnh”.
VCF
là thương hiệu cà phê hiện có thị phần cà phê hòa tan lớn nhất Việt Nam, có giá trị thương hiệu đáng kể. Thị trường cà phê Việt Nam được dự báo sẽ có mức tiêu thụ tăng khoảng 8 – 10% trong thời gian tới (mức trung bình thế giới từ 6%–7%).
Tăng hiện diện hình ảnh và thương hiệu MSN
, bổ sung giá trị cổ phiếu MSN
, phục vụ chiến lược xa hơn là niêm yết trên thị trường quốc tế.
Mua lại VCF
, MSN
sẽ giải ngân được lượng tiền khổng lồ đã huy động những năm trước các định chế tài chính, phần nhiều nhất là từ Hoa Kỳ.
VCF
có gì sau M&A
Giai đoạn 2005-2010, VCF
luôn đứng đầu thị trường cà phê Việt Nam về thị phần cà phê hòa tan (năm 2005 chiếm 50% thị phần, năm 2010 chiếm 40%).
Lợi nhuận tổng tài sản và vốn chủ sở hữu VCF
2009 – 2010(8)
|
|
2009
|
2010
|
|
ROA (%)
|
30.8
|
26.5
|
|
ROE (%)
|
34.5
|
31.2
|
Trước thời điểm chấp nhận đề nghị chào mua của MSN
, VCF
đang kinh doanh có lãi (lũy kế 6 tháng đầu năm 2011 lãi ròng 122.5 tỷ đồng) và đang dự kiến đưa nhà máy công suất chế biến 3200 tấn/năm đi vào hoạt động năm 2012. VCF
cũng không có nhu cầu gọi thêm vốn kinh doanh.
Lợi ích cho VCF
từ thương vụ M&A này không rõ ràng.
Diễn biến thương vụ
Phản ánh của thị trường
Trong khoảng thời gian trước khi có đề nghị mua (từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 8), MSN
có mức giá khá vững từ 90.000đ/CP – 110.000đ/CP nhưng khối lượng giao dịch không lớn. Thanh khoản và giá chỉ thực sự tăng mạnh từ cuối tháng 8/2011 trở đi cho tới đầu tháng 10/2011.

Nguồn: Stockbiz.vn
Giao dịch VCF
trên thị trường với khối lượng lớn chủ yếu là từ tháng 5 đến gần cuối tháng 6/2011. Đầu tháng 5/2011, xuất hiện tin đồn thâu tóm – đây là thời gian VCF
được giao dịch nhiều nhất, giá bắt đầu tăng mạnh từ dưới 50.000đ/CP lên hơn 70.000đ/CP.

Nguồn: Stockbiz.vn
Giá MSN
và VCF
chỉ thực sự tăng mạnh từ khi bắt đầu có đề nghị mua của MSN
vào cuối tháng 8/2011. Với mức giá cao và liên tục tăng trong tình hình thị trường chứng khoán đang đi xuống, mà khối lượng giao dịch không đáng kể, có nhiều hoài nghi về khả năng “làm giá” MSN
và VCF
.
Sau M&A
Giá mua hơn 1,607.7 tỷ đồng so với giá trị ghi sổ 699.479 tỷ đồng trước thời điểm chào mua đã được VCF
ghi nhận lại phần chênh lệch trị giá 929.648 tỷ đồng trong BCTC. Toàn bộ phần này làm tăng giá trị tài sản cố định vô hình và được phép tính khấu hao. Phần lớn nhất, trị giá 543.799 tỷ đồng ghi nhận cho nhãn hiệu. Như vậy, nhãn hiệu của VCF
được đánh giá xấp xỉ 77,8% giá trị của các tài sản có thể nhận biết được tại thời điểm mua.
Không có thông tin đánh giá về mức độ hợp lý của định giá thương hiệu và phương pháp hạch toán.

Với VCF
, cơ cấu sở hữu đã thay đổi, song hoạt động kinh doanh về cơ bản không có sự thay đổi đáng kể. Một năm sau M&A, VCF
(thực chất là MSN
) đã đưa ra kế hoạch kinh doanh đầy tham vọng: tới 2016 sẽ chiếm 80% thị phần cà phê hòa tan trong nước, (gấp đôi so với hiện tại) và 51% thị phần cà phê rang xay với mức tăng trưởng từ 70% – 90%/năm.

Về hoạt động kinh doanh, năm 2011, Vinacafe vẫn là thương hiệu hàng đầu trên thị trường cà phê Việt Nam hiện đang cạnh tranh khốc liệt.
Với Masan, chỉ vài ngày sau khi khẳng định đã thâu tóm phần đa tỷ lệ sở hữu ở VCF
, MSN
đã thông qua kế hoạch huy động vốn và hỗ trợ niêm yết cổ phần đang lưu hành của công ty ở nước ngoài. MSN
đã dần đạt được mục tiêu tiến ra TTCK nước ngoài đề ra trước đó.
8/2/2012, MSN
công bố kết quả kinh doanh của năm 2011:

Nguồn: Masan Group, Thông cáo báo chí ngày 8/2/2012.
Trong đó (b) giả định Masan Group đã sở hữu 50.3% cổ phần trong CTCP Vinacafe Biên Hòa kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 và cộng lại khoản phân bổ lợi thế thương mại từ thương vụ mua lại VCF
cho năm tài chính 2011.
Trên thị trường chứng khoán, MSN
có mức giá cao và khá ổn định so với mặt bằng chung của thị trường. Tuy nhiên trong vòng khoảng 3 tháng trở lại đây, MSN
có xu hướng giảm cả về giá lẫn khối lượng giao dịch.

Nguồn: Stockbiz.vn
Sắp tới trong quý 3/2012, VCF
sẽ vận hành nhà máy chế biến mới có công suất 3200 tấn/năm (so với 1000 tấn/năm của Nescafe và 3000 tấn/năm của G7). Đây là sức mạnh và cũng là sức ép buộc VCF
phải tấn công mạnh mẽ hơn nữa các đối thủ.
Thâu tóm được VCF
, MSN
tiến thẳng vào thị trường cà phê giàu tiền năng của Việt Nam, chiếm lĩnh ngay vị thế thuận lợi.
Kinh nghiệm từ thâu tóm VCF
giúp MSN
triển khai hiệu quả hơn chiến lược mở rộng bằng M&A, như với TAC
, và tiếp tục có thể sẽ là các thương hiệu hàng tiêu dùng trong ngành sữa, rượu-bia-nước giải khát v.v..
Lương Minh Hà – Giảng viên, Học viện Ngân hàng
Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.