• International Edition
  • Giá trực tuyến: Bật
  • RSS
  • Hỗ trợ
VN-INDEX 596,07 0,00/0,00%
Biểu đồ thời gian thực
Cập nhật lúc 8:40:28 SA

Stockbiz MetaKit là phần mềm cập nhật dữ liệu phân tích kỹ thuật cho MetaStock và AmiBroker (Bao gồm dữ liệu EOD quá khứ, dữ liệu EOD trong phiên và dữ liệu Intraday trên 3 sàn giao dịch HOSE, HNX, UPCOM)

Stockbiz Trading Terminal là bộ sản phẩm tích hợp đầy đủ các tính năng thiết yếu cho nhà đầu tư từ các công cụ theo dõi giá cổ phiếu realtime tới các phương tiện xây dựng, kiểm thử chiến lược đầu tư, và các tính năng giao dịch.

Kiến thức căn bản

Tổng hợp các kiến thức căn bản về thị trường tài chính, chứng khoán giúp cho bạn có thể tiếp cận đầu tư thuận lợi hơn.

Phương pháp & Chiến lược

Giới thiệu các phương pháp luận sử dụng để phân tính, và các kỹ năng cần thiết phục vụ cho việc đầu tư.

01 Tháng Tám 2014 8:37:58 SA - Mở cửa
VN-INDEX    596,07   0,00/0,00%  |   HNX-INDEX   79,26   0,00/0,00%  |   UPCOM-INDEX   47,39   0,00/0,00%  |   VN30   637,04   +7,97/+1,27%
Kinh tế vĩ mô VN: Tăng trưởng chậm, người đồng hành không được chào đón
Nguồn tin: DDND | 03/05/2012 4:38:44 CH

Khối Nghiên cứu Kinh tế của Ngân hàng HSBC (HSBC Global Research) vừa công bố bản báo cáo về Kinh tế Vĩ mô - Triển vọng thị trường Việt Nam số tháng 5/2012. Theo bản báo cáo, Các biện pháp thắt chặt tiền tệ được áp dụng thành công trong năm 2011 đã kiềm chế cầu tín dụng và giảm lạm phát đáng kể.

Khó cân bằng các chỉ tiêu kinh tế cùng lúc


Bản báo cáo nhận xét, Việt Nam đang đứng ở giao lộ. Trong gần mười năm trở lại đây, cũng giống các nền kinh tế tương tự trong khu vực, tăng trưởng ở Việt Nam được dẫn dắt bằng tín dụng. Sự tăng trưởng đó đã giúp nền kinh tế tăng trưởng trung bình 7%/năm trong vòng một thập kỷ qua. Tăng trưởng, đặc biệt là dưới sự dẫn dắt của tín dụng, thường đi kèm với một vấn đề nhức nhối khác: áp lực lạm phát nóng lên. Để tránh được cặp đôi tăng trưởng nhanh và lạm phát leo thang, chúng tôi tin rằng cải tổ cơ cấu là cần thiết để nâng cao hiệu quả đầu tư, từ đó nâng cao năng suất lao động. Đối với Việt Nam, điều này đặc biệt quan trọng khi dân số và thu nhập tăng làm cho tổng cầu tăng theo. Nếu không cải tổ theo con đường ấy, Việt Nam sẽ rơi vào vòng xoáy nguy hiểm: phải mở rộng tín dụng để hỗ trợ các doanh nghiệp kém hiệu quả trong bối cảnh áp lực lạm phát ngày một nóng bỏng.

Năm ngoái, để ứng phó với mức lạm phát cao, Chính phủ đã thực thi các biện pháp thắt chặt tiền tệ để giảm cầu. Tăng trưởng tín dụng giảm từ 27,7% năm 2010 xuống còn 10,9% năm 2011. Trong khi NHNN đảo ngược quá trình thắt chặt vào cuối năm 2011 và sau đó hạ các lãi suất chính sách vào đầu năm 2012, tổng lượng vốn vay đã hạ 1,9% từ đầu năm tới hết tháng 3, cho thấy nhu cầu trong nước thấp hơn nhiều so với mong đợi. Với tín dụng thu hẹp trong quý đầu tiên và tăng trưởng kinh tế bị giảm tốc đột ngột từ  6,1% vào quý 4/2011 xuống 4,1% vào quý 1/2012, NHNN có lẽ sẽ hạ tiếp các lãi suất chính sách trong các quý tiếp theo.

Sự suy giảm của tổng cầu mang lại hai hiệu ứng tích cực: 1) lạm phát giảm đi đáng kể và có khả năng đạt một con số vào tháng 5; và 2) cầu nhập khẩu giảm đáng kể, do đó cán cân thương mại và sự ổn định của Việt Nam đồng (VND) sẽ được cải thiện. Ngay cả xuất khẩu, vốn dĩ rất sôi động, cũng sẽ giảm đi do VND trở nên kém cạnh tranh cũng như cầu ngoài nước đang giảm sút. Nhìn tổng thể, xuất khẩu ròng sẽ tăng do nhập khẩu giảm, nhưng nhu cầu tiêu dùng trong nước sẽ rất thấp trong năm 2012. Vì thế, HSBC điều chỉnh dự đoán về tăng trưởng của mình cho năm 2012 từ 5,7% xuống 5,1%.


Lạm phát giảm nhanh
 
Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong việc kiềm chế lạm phát vào cuối năm ngoái. Các lãi suất chính sách tăng từ  9% lên 15% giữa Quý 1 và Quý 2 năm 2011. Thêm vào đó, tăng trưởng tín dụng bị giới hạn ở mức 20% nhưng thực tế chỉ đạt 10,9%. Các công cụ này đang dần phát huy tác dụng thông qua nền kinh tế, đã làm giảm tổng cầu và áp lực lạm phát, bất chấp tình trạng giá dầu cao và giá điện tăng vọt. Theo số liệu mới nhất, lạm phát đã giảm từ 14,1% trong tháng 3 xuống còn 10,5% trong tháng 4 so với cùng kỳ năm ngoái. Tính từ tháng 8/2011, lạm phát đã giảm từ mức đỉnh điểm 23% cùng kỳ năm trước xuống gần sát mức một con số. Các chuyên gia của HSBC kỳ vọng lạm phát toàn phần sẽ đạt mức một con số vào tháng 5 tới. Chỉ số lạm phát toàn phần đã liên tiếp tăng ở mức thấp nhất trong vòng ba năm trở lại đây, với chỉ số giá trong tháng 4 chỉ tăng 0,05% (số liệu so sánh theo tháng và có điều chỉnh theo yếu tố mùa vụ) so với 0,2% trong tháng 3. Khi tổng cầu suy giảm nhiều hơn mức trông đợi, áp lực lạm phát cũng sẽ giảm nhiều hơn nữa, và mức ước đoán cho năm 2012 sẽ vào khoảng 9,8% thay vì 11,0% như trước đây.

 



Lương thực là nhóm hàng có chỉ số giá giảm mạnh nhất, từ 17,8% vào tháng 3 xuống còn 11,9% vào tháng 4 so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi lương thực là nhóm hàng chiếm tỷ trọng gần 40% trong rổ CPI, lượng cung ứng dồi dào trong thời điểm nhu cầu tiêu thụ thấp đã khiến chỉ số lạm phát cho nhóm hàng này giảm đáng kể. Chỉ số lạm phát cơ bản, không tính lương thực và năng lượng, mặc dù giảm nhưng duy trì khá ổn định ở mức 10,3% trong tháng 4 so với cùng kỳ năm ngoái (tháng 3 là 12%).

Lạm phát giảm xuống, như trong Biểu đồ 1, đã tạo điều kiện cho NHNN giảm lãi suất trong quý 1/2012. Các lãi suất chính sách chủ đạo đã được cắt giảm 2% trong vòng một tháng (lần giảm đầu tiên vào tháng 3 và lần thứ 2 vào tháng 4) để thúc đẩy tiêu dùng trong nước.

Không có nhu cầu tiêu dùng


Trong khi Chính phủ Việt Nam đã thành công trong việc tiết giảm nhu cầu để kiềm chế áp lực lạm phát, việc đó cũng đồng thời hãm đà tăng trưởng nhiều hơn mong đợi. Trong quý đầu năm 2012, tăng trưởng đã giảm xuống mức 4,1% so với cùng kỳ năm ngoái, với ngành dịch vụ suy giảm nhiều nhất. Mốc GDP của Quý 1 đánh dấu mức tăng trưởng thấp nhất kể từ tháng 3/2009. Nếu so sánh với quý trước, GDP đã suy giảm mạnh nhất trong vòng một thập kỷ, khi giảm 2,5% trong quý 1/2012 từ mức tăng 2,9% của quý trước đó (số liệu đã được điều chỉnh theo yếu tố thời vụ).

 



Tăng trưởng chậm của nền kinh tế phản ánh tình trạng tín dụng bị thắt chặt. Không có gì đáng ngạc nhiên khi các doanh nghiệp và ngành sản xuất gặp khó khăn nếu nhìn dư nợ cho vay đã suy giảm thực tế trong năm 2011 và thu hẹp lại trong quý 1/2012. Đặc biệt, bất động sản và xây dựng là hai lĩnh vực suy giảm nhiều nhất, vì lãi suất cho vay cao đã làm sụt giảm nhu cầu về nhà cửa. Trong các ngành khác, hoạt động kinh doanh cũng dần chững lại do những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Trên thực tế, đã có hàng nghìn doanh nghiệp phải đóng cửa hoặc tạm dừng hoạt động do chi phí vốn quá cao.

Mức chênh lệch lớn trong tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu đã nêu bật sự suy giảm mạnh của cầu nội địa. Tính từ đầu năm tới nay , xuất khẩu tăng 22,1% so với cùng kỳ năm ngoái trong khi nhập khẩu chỉ tăng 4,4%. Tăng trưởng xuất khẩu giảm từ 23,0% trong tháng 3 xuống 16,7% trong tháng 4 so với cùng kỳ năm ngoái đã phản ánh những yếu tố cơ bản. Còn nếu so sánh theo tháng và có điều chỉnh theo mùa vụ, xuất khẩu từ sụt giảm 19,2% vào tháng 3 đã tăng 3,7% vào tháng 4 (nguyên nhân chính là do dịp Tết đã có tác động lên các số liệu điều chỉnh mùa vụ). Nhìn chung, trong lúc kinh tế Trung Quốc đang chậm lại và Tây Âu lâm vào suy thoái khiến cho xuất khẩu giảm sút từ 2011, thì ở Mỹ và Nhật Bản giá hàng hóa lại tăng, cũng như nhu cầu tương đối mạnh, đã giữ được nhịp tăng trưởng xuất khẩu. Trong thời gian tới, chúng tôi kỳ vọng xuất khẩu sẽ tăng 17,7% trong cả năm, giảm so với mức dự đoán ban đầu là 22,9%. Nhu cầu của các nhà nhập khẩu nước ngoài có lẽ sẽ tăng lên vì Trung Quốc đang dần hồi phục cũng như Mỹ đã có mức tăng trưởng vượt dự báo. Tuy nhiên, xét về nguồn cung, khi nhiều doanh nghiệp bị hạn chế trong tiếp cận vốn vì giá vay vốn quá cao, sản xuất hàng hóa sẽ bị ảnh hưởng. Thêm vào đó, xuất khẩu Việt Nam cũng sẽ mất chút ít lợi thế cạnh tranh do VND đang ổn định. Vì vậy, mặc dù vẫn sẽ có tăng trưởng, nhưng tốc độ xuất khẩu của Việt Nam sẽ chậm lại trong năm nay.

Các chuyên gia của HSBC tin rằng sự sụt giảm đáng lo lắng nhất không phải là ở xuất khẩu mà là nhập khẩu đang suy giảm đáng kể. Trong khi Việt Nam cần giảm tốc nhập khẩu để kìm hãm thâm hụt thương mại, thì số liệu tăng trưởng nhập khẩu yếu kém cũng cho thấy rằng cầu nội địa đang thấp. Vì hầu hết các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam được sử dụng cho sản xuất hơn là tiêu dùng, mức tăng trưởng nhập khẩu thấp cho thấy các doanh nghiệp đang khá thận trọng và ước đoán nhu cầu thị trường sẽ  rất thấp trong những tháng tới. Thực tế, các nguyên vật liệu nhập khẩu như phân bón, bông, vải sợi, nguyên liệu da giày, thép, ô tô, xe máy, xăng và khí đốt hóa lỏng đã chứng kiến mức sụt giảm mạnh trong vài tháng trở lại đây khi so sánh cùng kỳ năm ngoái. Với mức suy giảm trong cầu nhập khẩu, phản ánh cầu tiêu dùng trong nước thấp cũng như môi trường sản xuất khó khăn hơn, kỳ vọng thâm hụt thương mại sẽ được cải thiện đáng kể và giảm từ  9,8 tỷ USD trong năm 2011 xuống 4,6 tỷ USD trong năm 2012.


Trong khi giúp cải thiện số liệu về xuất khẩu ròng, việc giảm nhập khẩu phản ánh nhu cầu tiêu dùng cá nhân đã chững lại cũng như đầu tư đang giảm đi. Số liệu GDP thấp hơn mức mong đợi của quý 1 chứng tỏ nhiều ngành, bao gồm cả ngành dịch vụđang giảm tăng trưởng đáng kể. Ngay cả khi chúng tôi kỳ vọng mức tăng trưởng nhập khẩu sẽ lên lại vào các tháng tiếp theo khi lãi suất cho vay giảm và có thêm nhiều công cụ nới lỏng được thực thi, mức tăng trưởng này cũng sẽ giảm xuống 14,0% cho cả năm so với dự báo trước đây của chúng tôi là 20,6%. Ngay cả bán lẻ vốn là ngành rất sôi động cũng đã trầm lắng xuống. Nếu xét theo xu hướng như trong Biểu đồ 5, bán lẻ đã rơi xuống vùng tăng trưởng âm trong những tháng gần đây, cho thấy mức tiêu dùng có thể còn tiếp tục giảm trong thời gian tới. Với nhu cầu thấp, kỳ vọng mức tăng trưởng tiêu dùng cá nhân giảm xuống 4,3% trong năm 2012 thay vì con số ước tính trước đây là 4,8%.

 



Vì tăng trưởng đã giảm nhiều hơn mong đợi và lạm phát liên tục dịu xuống, chúng tôi tin rằng NHNN sẽ tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ trong những tháng tiếp theo. Vừa rồi, lãi suất đã giảm 2% trong vòng một tháng để kích thích tiêu dùng. Đợt giảm lãi suất tiếp theo có lẽ sẽ vào đầu quý 3/2012. Chính phủ cũng sẽ cố gắng tạo điều kiện để tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế qua các công cụ hành chính cũng như việc thực thi chính sách tín dụng ưu đãi cho các ngành trọng yếu của nền kinh tế. Trong khi các công cụ này sẽ dần phát huy tác dụng và thúc đẩy tăng trưởng trong những quý tới, những tác động tiêu cực của tình trạng thắt chặt tín dụng đã được phản ánh trong quý đầu năm. Vì thế, ngay cả khi chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng và tăng trưởng sẽ nhanh hơn trong ba quý tiếp theo, các chuyên gia vẫn tin rằng nền kinh tế sẽ tăng trưởng chậm lại ở mức 5,1% trong năm 2012 so với mức 5,9% trong năm 2011.

 



VND - viễn cảnh tươi sáng, nhưng vẫn nên thận trọng

Trong số Kinh tế Vĩ mô - Triển vọng thị trường Việt Nam ra ngày 13/3/2012, chúng tôi đã tóm lược nhiều nhân tố làm chúng ta lo ngại về việc VND đã bắt đầu cải thiện. Thâm hụt thương mại đã ổn định và cải thiện rất nhiều, cùng nguồn vốn FDI vào mạnh mẽ, là những lý do khiến tình hình tiếp tục trở nên tích cực hơn. Câu chuyện thương mại lại tiếp diễn khi tăng trưởng tín dụng thấp làm giảm tăng trưởng nhập khẩu, trong khi xuất khẩu vẫn tăng trưởng mạnh mẽ (Biểu đồ 1). Cho tới nay, cán cân thương mại và FDI đã ở trong khu vực tích cực trong vòng sáu tháng, đã đóng góp vào sự ổn định của VND.

Tuy nhiên, tại thời điểm hiện tại, chúng tôi tiếp tục giữ quan điểm thận trọng về đồng nội tệ. Trong khi có rất ít nguy cơ xảy ra phá giá VND ngay lập tức, vẫn có chút quan ngại rằng chính sách tiền tệ sẽ quá lỏng nếu lạm phát quay trở lại mạnh hơn vào nửa cuối năm. Tuy nhiên, nếu lạm phát tiếp tục giảm, và các lãi suất chính sách không bị hạ quá nhanh, thì VND vẫn sẽ tiếp tục ổn định.

Lãi suất cắt giảm nhiều và nhanh... nhưng lạm phát vẫn có nguy cơ giảm tiếp


Hai đợt cắt giảm lãi suất 100 điểm gần đây xảy ra khá nhanh và kèm theo là lạm phát cũng giảm mạnh, chủ yếu do chỉ số giá lương thực suy giảm. Đà giảm của lạm phát vẫn tiếp diễn - từ 17% cùng kỳ năm ngoái vào tháng 1 xuống còn trên 10% vào tháng 4 - và vì thế, những đợt cắt giảm lãi suất gần nhất đã ít nhiều có tác dụng giải tỏa cho thị trường. Lãi suất thực, đo bằng lãi suất thị trường mở OMO, hiện đã ở mức thực dương lần đầu tiên trong vòng hơn hai năm (Biểu đồ 2). Đây là một tín hiệu đáng mừng cho VND, vốn có lịch sử bị mất lòng tin của thị trường trong nước cũng như quốc tế với vòng luẩn quẩn phá giá - lạm phát.

 



Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, trong khi cuộc chiến với lạm phát có thể đã giành thắng lợi, chúng ta vẫn phải chiến đấu với một cuộc chiến dài hạn hơn. Các chuyên gia phân tích kinh tế của chúng tôi đã chỉ ra rằng áp lực giá cả có thể tăng cao vào nửa cuối năm ở các nước châu Á, do đó, có khả năng các chính sách tiền tệ của NHNN không phản ánh thị trường kịp thời, gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên đồng VND.


Như chúng tôi đã chỉ ra những trường hợp tương tự của đồng rupee Ấn Độ (INR) và đồng rupiah của Indonesia (IDR), khi nhà đầu tư bắt đầu cảm thấy lo ngại về các chính sách kinh tế, đồng nội tệ có thể phải chịu áp lực rất lớn. Điểm chung ở đây là cả ba đồng tiền đều của những quốc gia bị thâm hụt tài khoản vãng lai, đang cần vay vốn nước ngoài, nên chúng sẽ trở nên kém hấp dẫn một khi xuất hiện những quan ngại về chính sách. Vì thế, khi các đợt giảm lãi suất gần đây đã được minh chứng qua việc lạm phát giảm nhanh chóng, các chuyên gia cho rằng rủi ro chủ đạo vào cuối năm nay sẽ là đồng nội tệ tiếp tục yếu đi khi lạm phát quay trở lại.
 

H.Anh

 

Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.
 
Gửi bình luận
 
Chúng tôi khuyến khích những bình luận theo hướng mở rộng hoặc bổ sung thông tin liên quan cho bài viết. Chúng tôi sẽ khóa những bình luận có ngôn từ mang tính kích động hoặc bất nhã.