• International Edition
  • Giá trực tuyến: Bật
  • RSS
  • Hỗ trợ
VN-INDEX 961,26 +11,36/+1,20%
Biểu đồ thời gian thực
Cập nhật lúc 3:10:08 CH

Stockbiz MetaKit là phần mềm cập nhật dữ liệu phân tích kỹ thuật cho MetaStock và AmiBroker (Bao gồm dữ liệu EOD quá khứ, dữ liệu EOD trong phiên và dữ liệu Intraday trên 3 sàn giao dịch HOSE, HNX, UPCOM)

Stockbiz Trading Terminal là bộ sản phẩm tích hợp đầy đủ các tính năng thiết yếu cho nhà đầu tư từ các công cụ theo dõi giá cổ phiếu realtime tới các phương tiện xây dựng, kiểm thử chiến lược đầu tư, và các tính năng giao dịch.

Kiến thức căn bản

Tổng hợp các kiến thức căn bản về thị trường tài chính, chứng khoán giúp cho bạn có thể tiếp cận đầu tư thuận lợi hơn.

Phương pháp & Chiến lược

Giới thiệu các phương pháp luận sử dụng để phân tính, và các kỹ năng cần thiết phục vụ cho việc đầu tư.

VN-INDEX    961,26   +11,36/+1,20%  |   HNX-INDEX   141,70   +0,84/+0,60%  |   UPCOM-INDEX   63,91   +0,27/+0,42%  |   VN30   930,30   +12,00/+1,31%  |   HNX30   262,17   +1,84/+0,70%
25 Tháng Mười 2020 12:34:14 CH - Mở cửa
BVSC: Quyết định của Fed khiến các NHTW của các thị trường mới nổi thận trọng
Nguồn tin: Người đồng hành | 02/08/2019 3:19:22 CH
Cuộc họp chính sách tháng 7 của Fed đã kết thúc với kết quả lãi suất Fed Fund Rate lần đầu tiên được giảm 0,25% từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, từ mức 2,25-2,5% về mức 2-2,25%.
 
Báo cáo của CTCK Bảo Việt (BVSC) nhận định việc giảm lãi suất lần này trên thực tế gần như hoàn toàn nằm trong kỳ vọng của giới đầu tư. Công cụ của CME Group cho biết tỷ lệ kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất liên tục duy trì ở mức cao, trên 80% từ đầu tháng 7.
 
Do đó, khi quyết định cắt giảm lãi suất được chính thức đưa ra, tác động tích cực tới tâm lý nhà đầu tư gần như không còn nhiều. Trong phiên ngày 31/7, thị trường chứng khoán (TTCK) Mỹ còn điều chỉnh (chỉ số Dow Jones và S&P 500 giảm trên 1%) sau phát biểu của Chủ tịch Fed Jerome Powell trong cuộc họp báo, rằng cắt giảm lãi suất không phải là sự bắt đầu của một chuỗi dài tiếp theo nhưng cũng không nói việc này chỉ diễn ra 1 lần. Thông điệp phần nào đi ngược lại với kỳ vọng cắt giảm mạnh lãi suất của nhà đầu tư trên thị trường. Đây được xem là nguyên nhân chính đẩy TTCK Mỹ lao dốc. 
 
Động thái cắt giảm lãi suất của Fed được coi là một “insurance cut”
 
Việc chuyển hướng từ thắt chặt sang nới lỏng chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương (NHTW) các nước trên thế giới chủ yếu do áp lực từ việc kinh tế suy giảm. Nếu kinh tế rơi vào khủng hoảng sâu và kéo dài, các động thái cắt giảm lãi suất thường sẽ diễn ra nhanh và dồn dập trong một thời gian ngắn. Theo quan sát của BVSC, trong quá khứ, Fed thường chỉ cắt giảm lãi suất mạnh liên tiếp khi có 4 dấu hiệu. Thứ nhất, GDP của Mỹ tăng trưởng âm hai quý liên tiếp. Thứ 2, tỷ lệ thất nghiệp liên tục tăng. Thứ 3, bảng lương phi nông nghiệp dưới mức 100.000 việc làm/tháng. Thứ 4, điều kiện tài chính (Financial condition) ở trạng thái thắt chặt. 
 
Với tiêu chí 3 và 4, các số liệu về thị trường lao động của Mỹ (bảng lương phi nông nghiệp trong tháng 6 tăng hơn 200.000 việc làm mới, vẫn trên mức cảnh báo 100.000 việc làm/tháng buộc Fed phải giảm lãi suất mạnh trong quá khứ) và các điều kiện tài chính (Financial Condition) đang ở trạng thái không quá thắt chặt cũng là những lý do khiến Fed chưa phải hành động quá “gấp gáp” trong việc giảm lãi suất.
 
BVSC cho rằng việc Fed quyết định giảm 0,25% sau cuộc họp chính sách tháng 7 có tính chất như một “insurance cut”, tức là hành động mang tính đi trước, nhằm ngăn chặn những dấu hiệu suy giảm của nền kinh tế trong tương lai thay vì chịu áp lực phải cắt giảm lãi suất nhanh và mạnh ngay lập tức trong hiện tại để chống đỡ lại đà suy giảm (khác với chu kỳ cắt giảm năm 2000 và 2008). Bên cạnh đó, nền lạm phát thấp (chỉ số PCE ở mức 1,6% dưới mục tiêu 2% của FED) và đường cong lợi suất TPCP Mỹ giữa kỳ hạn 3 tháng và 10 năm (không phải giữa kỳ hạn 2 năm và 10 năm vốn thường được tham chiếu để dự báo khủng hoảng) đang ở trạng thái đảo ngược cũng là những nhân tố để Fed muốn có một đợt cắt giảm lãi suất trong thời điểm hiện tại.
 
Trong bối cảnh hiện tại, tham chiếu trên những chỉ báo trên, BVSC cho rằng nền kinh tế Mỹ hoàn toàn chưa rơi vào trạng thái quá “nguy hiểm”. GDP của Mỹ trong quý II tăng 2,2%, chậm lại so với mức 3,1% trong quý I nhưng chưa đến mức chính thức bước vào pha suy giảm (được định nghĩa là GDP tăng trưởng âm hai quý liên tiếp). Ngoài ra, 2 tín hiệu cảnh báo sớm về khả năng kinh tế Mỹ bước vào pha suy giảm mà BVSC theo dõi là tỷ lệ thất nghiệp và chênh lệch lợi suất trái phiếu Chính phủ (TPCP) Mỹ giữa kỳ hạn 10 năm và 2 năm hiện cũng chưa hoàn toàn rõ ràng.

 
NHTW các nước EMs sẽ chờ động thái mới của Fed
 
Trên cơ sở đó, BVSC cho rằng trong 3 cuộc họp chính sách còn lại từ giờ cho tới cuối năm (diễn ra vào tháng 9, tháng 10 và tháng 12), cách tiếp cận của FED sẽ tiếp tục dựa vào dữ liệu thực tế (data- dependent) thay vì vạch ra lộ trình sẵn về một chu kỳ cắt giảm lãi suất mạnh và liên tục. Định hướng này cũng phù hợp với những phát biểu của ông Powell trong cuộc họp báo 1/8.
 
Việc Chủ tịch Fed không khẳng định việc cắt giảm lãi suất tháng 7 sẽ bắt đầu một chu kỳ này kéo dài khiến NHTW tại các thị trường mới nổi (EMs) phải thận trọng hơn với các quyết định về lãi suất trong tương lai. Kể từ đầu năm, khi Fed chuyển từ trạng thái thắt chặt quyết liệt chính sách tiền tệ sang “chế độ chờ” (pause mode) thì không ít NHTW tại các EMs đã có động thái cắt giảm trước lãi suất nhằm chống lại đà suy giảm của nền kinh tế, điển hình như Ấn Độ, Malasia, Philippines... Tuy nhiên, trong các cuộc họp chính sách sắp tới, NHTW các nước này nhiều khả năng sẽ có động thái “chờ” quyết định chính thức của Fed trước khi ra quyết định về chính sách lãi suất của nước mình (thay vì hành động sớm như nửa đầu năm nay).

 
Tại Việt Nam, giữa tháng 7 vừa qua, NHNN cũng cắt giảm 0,25% lãi suất tín phiếu, từ mức 3% về mức 2,75%. Động thái này được nhiều nhà đầu tư đánh giá là một động thái nới lỏng tiền tệ. Tuy nhiên, theo quan điểm của BVSC, động thái này, mặc dù về lý thuyết, có thể phần nào giúp khuyến khích các ngân hàng tăng cường cho vay nhiều hơn, giúp tăng cung vốn (do mua tín phiếu không được hưởng lãi cao như trước) nhưng tác động về mặt thực tế sẽ không lớn.
 
Khác với NHTW các nước phát triển, việc điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam thiên nhiều về trần tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng M2 (tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn, séc du lịch và các khoản tiền gửi có thể viết séc khác, và các khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn ngắn, hợp đồng mua lại qua đêm, đồng đô la châu Âu qua đêm, số dư trong quỹ tương hỗ ngắn hạn,...) không điều tiết gián tiếp thông qua lãi suất. Cơ chế lan truyền từ lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn đến lãi suất cho vay trên thị trường cũng rất hạn chế. Chưa kể thanh khoản hệ thống, dù dư thừa, thể hiện qua lãi suất liên ngân hàng ở mức thấp nhưng không đại diện cho toàn bộ hệ thống.
 
Thanh khoản giữa các ngân hàng hiện vẫn đang phân hóa mạnh, dẫn đến lãi suất huy động sẽ tiếp tục neo ở mức cao. Với các diễn biến hiện tại, BVSC nhận định rằng mặt bằng lãi suất ở Việt Nam có thể được điều chỉnh giảm ở một số lĩnh vực ưu tiên, tuy nhiên khó thiết lập được mặt bằng lãi suất mới thấp hơn hiện nay
 
Lê Hải
Tuyên bố trách nhiệmBài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.