• International Edition
  • Giá trực tuyến: Bật
  • RSS
  • Hỗ trợ
VN-INDEX 1.218,81 -21,90/-1,77%
Biểu đồ thời gian thực
Cập nhật lúc 3:05:00 CH

Stockbiz MetaKit là phần mềm cập nhật dữ liệu phân tích kỹ thuật cho MetaStock và AmiBroker (Bao gồm dữ liệu EOD quá khứ, dữ liệu EOD trong phiên và dữ liệu Intraday trên 3 sàn giao dịch HOSE, HNX, UPCOM)

Stockbiz Trading Terminal là bộ sản phẩm tích hợp đầy đủ các tính năng thiết yếu cho nhà đầu tư từ các công cụ theo dõi giá cổ phiếu realtime tới các phương tiện xây dựng, kiểm thử chiến lược đầu tư, và các tính năng giao dịch.

Kiến thức căn bản

Tổng hợp các kiến thức căn bản về thị trường tài chính, chứng khoán giúp cho bạn có thể tiếp cận đầu tư thuận lợi hơn.

Phương pháp & Chiến lược

Giới thiệu các phương pháp luận sử dụng để phân tính, và các kỹ năng cần thiết phục vụ cho việc đầu tư.

VN-INDEX    1.218,81   -21,90/-1,77%  |   HNX-INDEX   300,66   -6,36/-2,07%  |   UPCOM-INDEX   93,63   -0,48/-0,51%  |   VN30   1.255,35   -27,16/-2,12%  |   HNX30   530,90   -14,83/-2,72%
23 Tháng Năm 2022 11:46:49 CH - Mở cửa
Gắn kết sản xuất để thu hút đầu tư vào ngành muối
Nguồn tin: Vietnam+ | 22/01/2022 9:35:00 SA
Chiều 21/1, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội thảo Xúc tiến đầu tư và liên kết sản xuất tiêu thụ muối giữa hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ muối.
 
Theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, diện tích sản xuất muối cả nước năm 2021 gần 11.400 ha. Diện tích giảm dần trong những năm gần đây do thu nhập từ sản xuất muối thấp. Người dân đã dần chuyển đổi diện tích sản xuất kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy hải sản hoặc chuyển sang làm nghề khác nên có một số diện tích sản xuất muối bị bỏ hoang. Sản lượng muối hàng năm đạt trên 1 triệu tấn.
 
Cả nước có 19 tỉnh sản xuất muối trải dài từ Bắc vào Nam. Phương pháp sản xuất muối gồm: phơi cát truyền thống với trên 1.000 ha ở 5 tỉnh phía Bắc; phơi nước tập chủ yếu ở 3 tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận với trên 3.500 ha; phơi nước phân tán với trên 6.780  ha, chiếm  60 % diện tích sản xuất muối cả nước. Hiện có 4 nhóm chính là muối thô, muối tinh, muối công nghiệp và muối thực phẩm. Bước đầu đã hình thành được vùng sản xuất muối công nghiệp tại 3 tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
 
Để phát triển sản phẩm muối gắn với chất lượng, thương hiệu, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho biết, nhiều địa phương đã xây dựng được thương hiệu và chỉ dẫn địa lý, phát triển sản phẩm muối OCOP như: sản phẩm muối tinh của Công ty cổ phần Muối và thương mại Bạc Liêu đạt OCOP 4 sao; sản phẩm Muối Đề Gi của tỉnh Bình Định đã được xác lập quyền sở hữu công nghiệp với nhãn hiệu chứng nhận gắn với địa danh “Đề Gi”; muối tre Kosal của Quảng Bình đạt OCOP 3 sao...
 
Đối với thị trường xuất khẩu, hiện tại sản phẩm muối biển sạch giàu vi lượng có lợi sức khỏe của Việt Nam đã xuất khẩu sang một số nước như: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,... nhưng số lượng còn ít, mỗi năm xuất khẩu khoảng 20.000 – 40.000 tấn muối sạch. Các doanh nghiệp đang thúc đẩy, tìm kiếm thị trường nước ngoài để xuất khẩu muối nhằm đem lại giá trị kinh tế cao hơn.
 
Bà Hoàng Thị Tố Nga, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Định cho biết, Nam Định là tỉnh còn nhiều diện tích muối ở miền Bắc, sản xuất chủ yếu là thủ công. Mỗi năm sản xuất được gần 100.000 tấn. Nghề sản xuất muối khó khăn do hạ tầng xuống cấp. 
 
Nam Định có 3 chuỗi liên kết được chứng nhận sản phẩm an toàn. Các doanh nghiệp đã mạnh dạn chuyển sang chế biến sâu. Từ 2018, muối Nam Định đã xuất khẩu sang Nhật Bản. Để phục vụ cho chế biến, nhiều doanh nghiệp đã phải nhập muối từ các tỉnh khác, đặc biệt là muối phơi cát để chế biến.
 
Là 1 trong 3 địa phương có sản xuất muối công nghiệp lớn, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ninh Thuận mong muốn có nhà máy hóa chất được đặt tại tỉnh để giúp tiêu thụ muối sản xuất quy mô công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
 
Ông Bùi Xuân Long, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần muối Việt cho biết, hiện giá muối đang lên. Năm 2022, nhu cầu muối sẽ rất cao, giá sẽ tiếp tục tăng cao. Muối nguyên liệu đang khan hiếm. Doanh nghiệp đang sản xuất 3 ca liên tục nhưng không đủ đáp ứng thị trường trong nước. Nhu cầu doanh nghiệp chế biến cao nhưng doanh nghiệp vẫn thiếu muối.
 
Nguyên nhân được ông Bùi Xuân Long chỉ ra là do làm muối thô, cạnh tranh khó. Việt Nam có lợi thế sản xuất muối, nhưng nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư chế biến lại gặp khó bởi nguyên liệu. Việt Nam cũng có nhu cầu muối lớn không phải để ăn mà cho các ngành nghề khác.
 
Ông Bùi Xuân Long cho biết, ông đã tính đến tư vấn một số doanh nghiệp đầu tư vào Ninh Thuận hay Phú Yên nhưng cũng rất khó bởi không thể liên kết được nông dân. Kêu gọi đầu tư nhưng diêm dân vẫn giữ tư duy mỗi người một mảnh ruộng. Diêm dân không có kỹ năng, kiến thức là làm để làm gì, làm cho ai. Do đó, địa phương phải có định hướng liên kết diêm dân để sản xuất muối theo loại doanh nghiệp cần. Cái khó thứ hai là việc đưa muối từ ruộng đến nhà máy, chi phí rất cao do hạ tầng kém.
 
Ông Lê Đức Thịnh cũng thừa nhận, cả nước có khoảng 14.000 hộ sản xuất muối nhưng mới có có 37 hợp tác xã muối, 2 tổ hợp tác.
 
Để phát triển ngành muối theo hướng hiệu quả, bền vững trên cơ sở tận dụng tối đa lợi thế của các địa phương có truyền thống sản xuất muối, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1325/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển ngành muối giai đoạn 2021-2030. Thực hiện Quyết định số 1325/QĐ-TTg, Bộ Nông nghiệp và Phát riển nông thôn triển khai đang xây dựng Đề án nâng cao chất lượng và chuỗi giá trị ngành hàng muối Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025, Đề án được thực hiện trên địa bàn của 7 tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bến Tre, Bạc Liêu.
 
Ông Lê Đức Thịnh cho rằng, tái cơ cấu ngành muối là vấn đề cấp bách hiện nay không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cần phải xuất khẩu, khẳng định thương hiệu muối Việt Nam, không những góp phần ổn định sinh kế cho diêm dân mà còn tránh được số tiền lớn phải bỏ ra nhập khẩu mỗi năm.
 
Thời gian tới ngành cần củng cố, phát triển và thành lập mới hợp tác xã diêm nghiệp; phát triển chế biến, đa dạng hóa và nâng cao giá trị sản phẩm muối. Đồng thời, xây dựng khu sản xuất muối công nghệ cao với các sản phẩm muối tinh, làm đẹp, sản phẩm muối tâm linh, muối sức khỏe kết hợp du lịch trải nghiệm.
 
Ngành muối cần phát triển liên kết chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm muối; xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm muối cho sản phẩm muối của các hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia liên kết.
 
Ngoài ra, ngành cũng hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã áp dụng chương trình quản lý chất lượng sản phẩm tiên tiến như: HACCP, ISO; thiết kế mẫu nhãn sản phẩm, bao bì đóng gói, bảo hộ thương hiệu, nghiên cứu sản phẩm mới đặc biệt là các sản phẩm chất lượng cao, sản phẩm muối dược liệu phục vụ chăm sóc sức khỏe người tiêu dùng, xây dựng các sản phẩm OCOP về muối...